Con gấu đã nghe một lời hứa chắc chắn. Có những từ ngữ có thể ăn được; chúng nuôi dưỡng hơn cả tuyết phủ đầy trên đĩa bạc hay băng tràn trong bát vàng. Những mảnh băng từ miệng người yêu không phải lúc nào cũng ngon hơn, cũng như giấc mơ sa mạc không phải lúc nào cũng là ảo ảnh. Con gấu thức dậy, ngân nga bài ca từ từ, dệt bằng cát, chinh phục các thành phố theo một chu kỳ chậm rãi. Lời ca của nó mê hoặc cơn gió thoảng qua, bay tới biển, nơi một con cá, mắc kẹt trong chiếc lưới cẩn thận, nghe thấy bài hát gấu giữa tuyết lạnh mát thơm hương. Khi Tabby đọc xong bài thơ, không khí rơi vào im lặng. Không ai rõ mình nên phản ứng thế nào. Dường như những sợi dây cáp chạy len trong bài thơ, kéo căng các câu đến mức gần như ngân vang. Tôi thấy sự kết hợp giữa ngôn từ tinh tế và hình ảnh mê mải này vừa khiến người ta phấn khích vừa khai sáng. Bài thơ của cô ấy làm tôi cảm thấy mình không đơn độc trong niềm tin rằng văn chương hay vừa có thể say mê người đọc vừa chứa đựng ý tưởng sâu sắc. Nếu những người tỉnh táo hoàn toàn có thể làm tình như thể mất trí—thậm chí thực sự mất trí trong khoảnh khắc ấy—thì tại sao nhà văn lại không thể cuồng điên một chút mà vẫn giữ được lý trí? Bài thơ còn có một tinh thần lao động mà tôi ưa thích, gợi ý rằng viết thơ (hay truyện, hay tiểu luận) có nhiều điểm chung với việc quét dọn nhà cửa hơn là những khoảnh khắc huyền thoại của sự khai ngộ. Có một cảnh trong *A Raisin in the Sun*, khi một nhân vật hét lên: “Tôi muốn bay! Tôi muốn chạm vào mặt trời!” thì vợ anh ta đáp: “Trước tiên hãy ăn trứng đi đã.” Qua cuộc thảo luận sau phần đọc của Tab, tôi hiểu cô ấy nắm rõ bài thơ của mình đến mức nào. Cô ấy biết chính xác mình muốn nói gì và đã nói gần hết. Thánh Augustine (354–430 sau Công nguyên), cô ấy biết ông vừa là một người Công giáo vừa là sinh viên lịch sử. Mẹ Augustine (bản thân bà cũng là một thánh nhân) theo đạo Kitô, cha ông là người ngoại giáo. Trước khi cải đạo, Augustine theo đuổi tiền bạc và phụ nữ. Sau đó ông vẫn tiếp tục đấu tranh với ham muốn tình dục, nổi tiếng với lời cầu nguyện của người phóng túng: “Lạy Chúa, làm cho con trong sạch... nhưng chưa phải bây giờ.” Trong tác phẩm, ông tập trung vào cuộc đấu tranh của con người khi từ bỏ niềm tin vào bản thân để đặt niềm tin vào Chúa. Thỉnh thoảng, ông còn ví mình như một con gấu. Tabby có cách hơi cúi cằm xuống khi cười—khiến cô trông vừa khôn ngoan vừa đáng yêu kiểu nghiêm nghị. Tôi nhớ cô ấy đã làm vậy lúc đó và nói: “Ngoài ra, tôi thích gấu.” Bài ca từ từ có lẽ bởi sự thức tỉnh của con gấu cũng diễn ra chậm rãi. Con gấu mạnh mẽ và đầy cảm xúc, dù gầy gò vì nó đang sống ngoài thời đại của mình. Theo cách hiểu của Tabby khi được yêu cầu giải thích, con gấu có thể xem như biểu tượng cho thói quen vừa khó khăn vừa tuyệt vời của loài người: mơ những giấc mơ đúng đắn vào sai thời điểm. Những giấc mơ như thế đầy thử thách vì không phù hợp, nhưng cũng tuyệt vời trong lời hứa của chúng. Bài thơ gợi ý rằng giấc mơ rất quyền lực—giấc mơ của con gấu đủ sức quyến rũ cơn gió mang bài hát đến với con cá mắc lưới. Tôi không cố tranh luận rằng “A Gradual Canticle” là bài thơ vĩ đại (dù tôi nghĩ nó khá ổn). Điều quan trọng là đó là một bài thơ hợp lý giữa thời kỳ hỗn loạn, ra đời từ tinh thần làm việc với văn chương vang vọng khắp trái tim và linh hồn tôi. Tối hôm ấy, Tabby ngồi trên chiếc ghế bập bênh của Jim Bishop. Tôi ngồi trên sàn bên cạnh cô ấy. Tôi đặt tay lên bắp chân cô, cảm nhận đường cong của làn da ấm qua vớ. Cô ấy mỉm cười nhìn tôi. Tôi đáp lại nụ cười. Đôi khi, những khoảnh khắc thế này không phải ngẫu nhiên. Tôi gần như chắc chắn về điều đó. Sau ba năm cưới nhau, chúng tôi có hai đứa con. Chúng không phải kế hoạch trước cũng không phải hoàn toàn bất ngờ; đến lúc nào thì đến, và chúng tôi hạnh phúc khi có chúng. Naomi thường bị viêm tai. Joe thì khỏe mạnh nhưng dường như không bao giờ chịu ngủ. Khi Tabby chuyển dạ sinh Joe, tôi đang xem phim ngoài trời ở Brewer với một người bạn—ba phim kinh dị dịp Memorial Day. Chúng tôi đang xem phim thứ ba (*The Corpse Grinders*), vừa uống lon bia thứ hai thì người quản lý phá vỡ không khí với thông báo. Thuở ấy vẫn còn loa cột; khi đậu xe bạn nhấc loa xuống rồi treo qua cửa sổ xe. Tiếng loa của quản lý vang khắp bãi đỗ: “STEVE KING, VUI LÒNG VỀ NHÀ! VỢ ANH ĐANG CHUYỂN DẠ! STEVE KING, VUI LÒNG VỀ NHÀ! VỢ ANH SẮP ĐẺ!” Khi lái chiếc Plymouth cũ ra cửa, vài trăm cái còi đồng loạt hú lên như một lời chào mỉa mai. Nhiều người bật tắt đèn pha, phủ tôi trong ánh sáng nhấp nháy. Bạn tôi Jimmy Smith cười đến mức ngã xuống sàn xe phía trước, nằm đó suốt chuyến về Bangor, cười khúc khích bên những lon bia. Về đến nhà, Tabby vẫn bình tĩnh, đã chuẩn bị sẵn. Cô sinh Joe chưa đầy ba giờ sau đó. Thằng bé chào đời nhẹ nhàng. Trong năm năm tiếp theo, có rất ít điều dễ dàng về Joe. Nhưng cả hai đứa trẻ thật là niềm yêu thương. Ngay cả khi Naomi xé giấy dán tường trên cũi (có lẽ cô bé nghĩ mình đang dọn dẹp nhà) và Joe ị lên ghế mây trên hiên căn hộ ở phố Sanford, bọn trẻ vẫn là niềm vui lớn. Mẹ tôi biết rằng tôi muốn làm nhà văn (với cả đống thư từ chối đóng ghim trên tường phòng, làm sao bà không biết?), nhưng bà luôn khuyên tôi lấy chứng chỉ sư phạm “để còn có cái để dự phòng.”